hieuluat

Thông báo 145/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh tại Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới

  • Thuộc tính văn bản

    Cơ quan ban hành:Văn phòng Chính phủSố công báo:Theo văn bản
    Số hiệu:145/TB-VPCPNgày đăng công báo:Đang cập nhật
    Loại văn bản:Thông báoNgười ký:Nguyễn Cao Lục
    Ngày ban hành:08/04/2014Hết hiệu lực:Đang cập nhật
    Áp dụng:08/04/2014Tình trạng hiệu lực:Còn Hiệu lực
    Lĩnh vực:Chính sách
  • VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ
    -------
    -------------
    Số: 145/TB-VPCP
    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
    ---------------
    ---------------
    Hà Nội, ngày 08 tháng 04 năm 2014
     
     
    THÔNG BÁO
    KẾT LUẬN CỦA PHÓ THỦ TƯỚNG VŨ VĂN NINH TẠI HỘI NGHỊ
    SƠ KẾT 3 NĂM THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA XÂY DỰNG NÔNG THÔN
    MỚI CÁC TỈNH KHU VỰC ĐÔNG NAM BỘ, NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN
     
     
    Ngày 24 tháng 3 năm 2014, tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đã chủ trì Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Tham dự Hội nghị có các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương, các đồng chí cố vấn Chương trình, đại diện Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, đồng chí Huỳnh Đức Hòa, Bí thư tỉnh ủy tỉnh Lâm Đồng; lãnh đạo Ủy ban nhân dân 19 tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và đại diện các huyện, xã điển hình của các tỉnh. Sau khi nghe Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn báo cáo kết quả 03 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, ý kiến tham gia của các đại biểu, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới kết luận như sau:
    I.ĐÁNH GIÁ CHUNG
    Trong 3 năm qua mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực, sáng tạo trong lãnh đạo, điều hành, tổ chức thực hiện của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương và tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân, Chương trình xây dựng nông thôn mới đã trở thành phong trào sâu rộng ở tất cả các xã, được nhân dân đồng tình ủng hộ; nhiều nơi người dân nhận thức xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của chính mình. Chương trình đã đạt được kết quả đáng khích lệ, cụ thể là:
    - Công tác quy hoạch và lập đề án xây dựng nông thôn mới được các cấp chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đến nay đã cơ bản hoàn thành;
    - Phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất là điểm sáng của các địa phương. Từng địa phương đã phát huy thế mạnh để biến những tiềm năng, những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, về kinh tế xã hội thành hiện thực. Đến nay, các tỉnh đã xây dựng được 4.760 mô hình sản xuất chiếm trên 50% mô hình của cả nước (cả nước có khoảng 9.000 mô hình). Xuất hiện nhiều mô hình sản xuất liên kết giữa doanh nghiệp với nông dân, hợp tác xã với nông dân và nông dân với nông dân. Các mô hình đã thực sự phát huy hiệu quả sản xuất, góp phần duy trì và phát triển nông nghiệp chất lượng và bền vững. Bắt đầu xuất hiện sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở một số địa phương, điển hình là tỉnh Lâm Đồng:
    Diện tích ứng dụng công nghệ cao các loại cây trồng trên địa bàn Tỉnh đạt gần 35.000 ha, chiếm 11% diện tích đất canh tác; có trên 10.000 ha đạt doanh thu từ 500 - 1.000 triệu đồng/ha/năm.
    - Đã huy động nguồn lực to lớn từ nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư để đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội. Xuất hiện nhiều cách làm hay, sáng tạo, huy động sự tham gia tích cực của người dân trong việc đầu tư xây dựng các công trình, vì vậy, hạ tầng nông thôn có bước phát triển rõ rệt, từng bước đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất, đời sống và sinh hoạt của nhân dân.
    - Các kết quả về phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, môi trường được quan tâm; hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở đạt khá, nhất là ở cấp xã; đời sống nhân dân ngày được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh (bình quân 3%/năm); số xã đạt chuẩn nông thôn mới xuất hiện ở nhiều nơi, điển hình là các tỉnh vùng Đông Nam Bộ, đến nay toàn vùng có 27 xã đạt chuẩn nông thôn mới, chiếm 5,7% tổng số xã, cao hơn tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới cả nước (số xã đạt chuẩn cả nước là 144 xã, chiếm 1,6%).
    Thay mặt Chính phủ và Ban Chỉ đạo Trung ương nhiệt liệt chúc mừng, biểu dương những kết quả đã đạt được của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các tỉnh khu vực Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
    - Để đạt được các kết quả nêu trên, các địa phương cần tiếp tục đánh giá, rút kinh nghiệm và nhân rộng những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn sau:
    Một là, Cấp ủy, chính quyền các cấp có quyết tâm chính trị cao, vận động nhân dân vào cuộc, phát huy dân chủ ở nông thôn;
    Hai là, Vận dụng một cách sáng tạo chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước phù hợp với thực tiễn địa phương;
    Ba là, Quan tâm đến tổ chức sản xuất, xây dựng mô hình sản xuất phù hợp và biết phát huy lợi thế từng địa bàn; quan tâm lợi ích thực sự của người dân, làm cho đời sống nhân dân ngày càng được nâng lên; gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất; khuyến khích người dân tham gia phát triển sản xuất, thu hút doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất thông qua liên kết;
    Bốn là, Quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện, phân công từng đồng chí cấp ủy phụ trách từng địa bàn, từng xã, định kỳ báo cáo kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ được phân công;
    Năm là, Quan tâm huy động nguồn lực thực hiện Chương trình.
    - Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình vẫn còn một số tồn tại: Một số nơi, nhận thức của cán bộ các cấp về tầm quan trọng và ý nghĩa của Chương trình còn chưa đầy đủ, sâu sắc; cấp ủy đảng, chính quyền ở một số địa phương chưa thật sự quan tâm phổ biến nhân rộng cách làm hay, sáng tạo về xây dựng mô hình nông thôn mới, mô hình sản xuất, xây dựng hạ tầng, bảo vệ môi trường nông thôn; thực hiện các tiêu chí: quy hoạch, giao thông, thủy lợi, nước sinh hoạt, trường học đạt thấp hơn so với bình quân chung cả nước; cơ cấu kinh tế nông thôn chậm được điều chỉnh, công nghiệp dịch vụ phát triển chậm; số hợp tác xã hoạt động hiệu quả còn chưa nhiều; liên kết giữa doanh nghiệp - nông dân chưa phát triển mạnh; bố trí ổn định đời sống dân di cư tự do tại các tỉnh vùng Tây Nguyên còn nhiều khó khăn do thiếu nguồn lực.
    Đồng ý với phương hướng, nhiệm vụ nêu trong báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban nhân dân các tỉnh cần lưu ý một số nội dung trọng tâm sau:
    1. Xác định rõ mục tiêu xây dựng nông thôn mới: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giầu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
    2. Các cấp, các ngành của địa phương tiếp tục quán triệt tư tưởng chỉ đạo về xây dựng nông thôn mới, xác định xây dựng nông thôn mới là giải pháp chủ yếu, quan trọng có tính chiến lược để thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Xây dựng nông thôn mới phải thực hiện kiên trì, thường xuyên, liên tục, bền bỉ, không nóng vội, không chạy theo thành tích.
    3. Tiếp tục rà soát để nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cấp xã, cấp huyện, thực hiện quản lý theo quy hoạch, trong đó đặc biệt ưu tiên gắn quy hoạch cơ sở hạ tầng với quy hoạch sản xuất hàng hóa tập trung theo từng địa bàn xã, huyện, tỉnh, trên cơ sở thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo Quyết định số 899/QĐ- TTg ngày 10 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ và theo Nghị quyết số 30-NQ/BCT ngày 12 tháng 3 năm 2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp.
    4. Nhân rộng mô hình sản xuất mới, liên kết giữa nông dân với nông dân, doanh nghiệp với nông dân, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông sản. Xây dựng và nhân rộng mô hình ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất nhằm tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng giá trị trên một đơn vị diện tích;
    5. Về huy động nguồn lực thực hiện Chương trình: Huy động nguồn lực từ ngân sách trung ương, ngân sách địa phương, lồng ghép từ các chương trình mục tiêu, từ các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Huy động dân đóng góp tự nguyện vừa với sức dân tại từng địa bàn, không yêu cầu đóng góp bắt buộc, không huy động quá sức dân.
    Tăng cường nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, trong đó cần ưu tiên nguồn lực đầu tư các dự án phục vụ sản xuất, dân sinh; các công trình hạ tầng khác thực hiện dần từng bước. Cân đối bố trí tăng nguồn vốn ngân sách địa phương đầu tư trực tiếp cho Chương trình; thực hiện tốt việc lồng ghép nguồn vốn các chương trình, dự án khác trên địa bàn xã với Chương trình xây dựng nông thôn mới.
    6. Về quản lý đầu tư xây dựng công trình: đối với các công trình quy mô nhỏ, kỹ thuật đơn giản cần phân cấp mạnh cho xã, cho người dân và cộng đồng dân cư trong xã tự làm theo quy định tại Quyết định số 498/QĐ-TTg ngày 21 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về bổ sung cơ chế đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020.
    7. Về quản lý nhà nước đối với Chương trình: Các cấp, các ngành cần tiếp tục nghiên cứu cơ chế chính sách để bổ sung sửa đổi hoặc ban hành mới cho phù hợp với thực tiễn nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp liên kết với nông dân phát triển sản xuất, xây dựng quê hương theo quy hoạch, kế hoạch để đạt mục tiêu đề ra. Trong quy hoạch của địa phương cần phải tính đến quy hoạch cả nước, gắn với thị trường, tôn trọng thị trường; xác định rõ vai trò của Nhà nước trong việc hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, hỗ trợ doanh nghiệp thông qua chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, khoa học công nghệ....
    8. Tiếp tục quan tâm đến công tác giáo dục, y tế, văn hóa, an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội, bảo vệ môi trường, nhất là vấn đề xử lý rác thải;
    9. Xây dựng bộ máy, hệ thống chính trị vững mạnh, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ở nông thôn, nâng cao năng lực của bộ máy quản lý nhà nước các cấp trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện Chương trình.
    10. Về chỉ tiêu xã đạt chuẩn nông thôn mới đến năm 2015: số xã đạt chuẩn nông thôn mới của cả nước theo mục tiêu đề ra đến năm 2015 là khó đạt được. Tuy vậy, yêu cầu các địa phương không hạ chỉ tiêu, tích cực phấn đấu đạt chỉ tiêu ở mức cao nhất; có chỉ tiêu cụ thể giao cho các huyện, xã phấn đấu trong từng năm; việc thực hiện các tiêu chí phải tránh tư tưởng nóng vội, thành tích; căn cứ vào huy động nguồn lực, đặc điểm từng thôn, buôn, từng xã, tập quán của từng dân tộc để sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, lựa chọn tiêu chí căn bản, quan trọng, có tính quyết định trong xây dựng nông thôn mới để thực hiện trước, như tiêu chí: Thu nhập bình quân đầu người, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên, giảm tỷ lệ hộ nghèo, giao thông, thủy lợi..., các tiêu chí dễ thực hiện, gắn với dân thì giao cho dân làm;
    Trong quá trình thực hiện tiêu chí nên lựa chọn giải pháp vừa làm điểm vừa làm diện rộng tại thôn, buôn, xã; sau từng năm phải có đánh giá, rút kinh nghiệm để phấn đấu thực hiện năm sau số tiêu chí đạt chuẩn cao hơn năm trước, đồng thời có biện pháp để giữ và nâng cao chất lượng đối với tiêu chí đã đạt chuẩn nhằm duy trì bền vững.
    11. Các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của Chương trình xây dựng nông thôn mới; khơi dậy sức mạnh của nhân dân trong việc thực hiện các mục tiêu của Chương trình.
    12. Về tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình:
    - Các địa phương khẩn trương chỉ đạo và tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình và triển khai kế hoạch năm 2014; bình xét thi đua, khen thưởng đối với đơn vị, cá nhân có thành tích xuất sắc trong quá trình thực hiện Chương trình và trong phong trào thi đua “cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, trình cấp có thẩm quyền quyết định khen thưởng theo quy định. Việc tổ chức sơ kết phải bảo đảm thiết thực, hiệu quả và tiết kiệm, tránh phô trương hình thức gây lãng phí.
    - Bộ Nông nghiệp Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương có liên quan khẩn trương thực hiện nhiệm vụ được giao về chuẩn bị Hội nghị sơ kết 03 năm thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới toàn quốc theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 134/TB-VPCP ngày 31 tháng 3 năm 2014 của Văn Phòng Chính phủ.
    III. VGIẢI QUYẾT CÁC KIẾN NGHỊ
    1. Về hoàn thiện các cơ chế chính sách thực hiện Chương trình:
    a) Các Bộ, ngành là thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương tiếp thu kiến nghị của các địa phương, nghiên cứu từ thực tiễn những cơ chế, chính sách đã ban hành còn có điểm chưa phù hợp cần điều chỉnh hoặc những điểm còn thiếu cần bổ sung và chủ động ban hành văn bản hướng dẫn địa phương thực hiện theo thẩm quyền, báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.
    b) Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan:
    - Khẩn trương hoàn thiện, ban hành văn bản hướng dẫn các Bộ, ngành và địa phương thực hiện cơ chế, lồng ghép nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án khác trên địa bàn với nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại các văn bản: số 57/CT-BCĐTWXDNTM ngày 04 tháng 4 năm 2013 và số 379/TB-VPCP ngày 15 tháng 10 năm 2013;
    - Khẩn trương nghiên cứu việc hợp nhất các Chương trình mục tiêu quốc gia đang thực hiện trên địa bàn nông thôn (hợp nhất nội dung hoạt động, cơ chế đầu tư, hỗ trợ, cơ chế quản lý điều hành chương trình từ Trung ương đến địa phương) để khắc phục những hạn chế: Trùng chéo nội dung hoạt động, nguồn lực đầu tư, hỗ trợ dàn trải, thiếu tập trung..., báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương vào tháng 5 năm 2014. Trước mắt, hướng dẫn các địa phương lồng ghép vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia.
    - Khẩn trương ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định số 210/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn;
    - Phối hợp với Bộ Tài chính xem xét lại cơ chế quản lý đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc Chương trình (việc phân cấp quyết định đầu tư, công tác chỉ định thầu) đang thực hiện tại các địa phương để hướng dẫn cụ thể hơn, phù hợp hơn với thực tế từng vùng nhằm giúp các địa phương giải quyết các khó khăn, vướng mắc hiện nay.
    c) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tài chính trên cơ sở quy định tại Quyết định số 695/QĐ-TTg ngày 08 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ, tiếp tục nghiên cứu, quy định cụ thể hơn về cơ chế huy động đóng góp của người dân để xây dựng các công trình, trong đó cần lưu ý đến điều kiện cụ thể từng vùng, miền; việc huy động tự nguyện cũng phải phù hợp với khả năng của nhân dân. Không huy động quá khả năng của nhân dân, không bắt buộc người dân đóng góp dưới mọi hình thức;
    d) Ngân hàng Nhà nước tiếp tục nghiên cứu chính sách tín dụng áp dụng cho doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại tỉnh Lâm Đồng và một số địa phương khác (mức vốn vay, thế chấp tài sản vốn vay bằng nhà kính...) và giải quyết theo thẩm quyền nhằm tháo gỡ vướng mắc hiện nay; báo cáo Thủ tướng Chính phủ những vấn đề vượt thẩm quyền.
    đ) Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan:
    - Hướng dẫn việc quản lý, thanh quyết toán nguồn vốn trái phiếu Chính phủ để đầu tư xây dựng các công trình trên địa bàn xã; hướng dẫn bố trí ngân sách địa phương thực hiện quy hoạch nông thôn mới (ngoài số vốn ngân sách trung ương hỗ trợ bình quân như hiện nay), trong đó lưu ý đối với những địa phương thật sự có khó khăn để đề xuất ngân sách trung ương hỗ trợ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 134/TB-VPCP ngày 31 tháng 3 năm 2014 của Văn Phòng Chính phủ.
    - Khẩn trương tổng kết việc thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất việc mở rộng đối tượng bảo hiểm nông nghiệp trên phạm vi toàn quốc (trong đó có bảo hiểm chăn nuôi bò sữa), báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
    e) Về chức năng nhiệm vụ, biên chế cán bộ của Văn phòng điều phối Chương trình nông thôn mới các cấp: Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh nghiên cứu, đề xuất hình thức tổ chức cho phù hợp với chức năng quản lý nhà nhà nước của các cấp đối với Chương trình, báo cáo Thủ tướng Chính phủ theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại văn bản số 379/TB-VPCP ngày 15 tháng 10 năm 2013 của Văn phòng Chính phủ.
    Văn phòng Chính phủ xin thông báo để các cơ quan biết, thực hiện./.
     

     Nơi nhận:
    - Ban Bí thư Trung ương Đảng;
    - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng CP;
    - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
    - Tỉnh uỷ, Thành uỷ, UBND các tỉnh, thành phố Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên;
    - Các thành viên BCĐ Chương trình NTM;
    - Văn phòng Trung ương Đảng;
    - Văn phòng Tổng Bí thư;
    - Văn phòng Chủ tịch nước;
    - Văn phòng Quốc hội;
    - Ngân hàng Chính sách xã hội;
    - Ngân hàng Phát triển Việt Nam:
    - UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
    - Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
    - VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, các Vụ: TKBT, KTTH, KGVX, TH, V.III, ĐMDN, TGĐ Cổng TTĐT;
    - Lưu: Văn thư, KTN (3).Lĩnh 135
    KT. BỘ TRƯỞNG, CHỦ NHIỆM
    PHÓ CHỦ NHIỆM




    Nguyễn Cao Lục
  • Loại liên kết văn bản
    01
    Quyết định 695/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi nguyên tắc cơ chế hỗ trợ vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
    Ban hành: 08/06/2012 Hiệu lực: 08/06/2012 Tình trạng: Hết Hiệu lực
    Văn bản dẫn chiếu
    02
    Quyết định 498/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ sung cơ chế đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
    Ban hành: 21/03/2013 Hiệu lực: 21/03/2013 Tình trạng: Hết Hiệu lực
    Văn bản dẫn chiếu
    03
    Quyết định 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị tăng và phát triển bền vững
    Ban hành: 10/06/2013 Hiệu lực: 10/06/2013 Tình trạng: Còn Hiệu lực
    Văn bản dẫn chiếu
    04
    Thông báo 379/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh tại Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới các tỉnh miền núi phía Bắc
    Ban hành: 15/10/2013 Hiệu lực: 15/10/2013 Tình trạng: Còn Hiệu lực
    Văn bản dẫn chiếu
    05
    Nghị định 210/2013/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
    Ban hành: 19/12/2013 Hiệu lực: 10/02/2014 Tình trạng: Hết Hiệu lực
    Văn bản dẫn chiếu
    06
    Thông báo 134/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh tại cuộc họp tổng kết công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới năm 2013 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2014
    Ban hành: 31/03/2014 Hiệu lực: 31/03/2014 Tình trạng: Còn Hiệu lực
    Văn bản dẫn chiếu
    07
    Quyết định 639/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chương trình công tác năm 2014 của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
    Ban hành: 05/05/2014 Hiệu lực: 05/05/2014 Tình trạng: Còn Hiệu lực
    Văn bản dẫn chiếu
  • Hiệu lực văn bản

    Hiệu lực liên quan

    Văn bản chưa có liên quan hiệu lực
  • Văn bản đang xem

    Thông báo 145/TB-VPCP kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh tại Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới

    In lược đồ
    Cơ quan ban hành:Văn phòng Chính phủ
    Số hiệu:145/TB-VPCP
    Loại văn bản:Thông báo
    Ngày ban hành:08/04/2014
    Hiệu lực:08/04/2014
    Lĩnh vực:Chính sách
    Ngày công báo:Đang cập nhật
    Số công báo:Theo văn bản
    Người ký:Nguyễn Cao Lục
    Ngày hết hiệu lực:Đang cập nhật
    Tình trạng:Còn Hiệu lực
    Văn bản dẫn chiếu (7)
  • File văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Văn bản liên quan

Văn bản mới

X