hieuluat

Hiệp định giữa Việt Nam và Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất về tránh đánh thuế hai lần, ngăn ngừa trốn thuế

  • Thuộc tính văn bản

    Cơ quan ban hành:Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhấtSố công báo:Theo văn bản
    Số hiệu:Không sốNgày đăng công báo:Đang cập nhật
    Loại văn bản:Hiệp địnhNgười ký:Trần Xuân Hà, Obaid Humaid Al Tayer
    Ngày ban hành:16/02/2009Hết hiệu lực:Đang cập nhật
    Áp dụng:12/04/2010Tình trạng hiệu lực:Còn Hiệu lực
    Lĩnh vực:Thuế-Phí-Lệ phí, Ngoại giao, Chính sách
  • BỘ NGOẠI GIAO
    ------------
    Số: 20/2010/SL-LPQT
    Hà Nội, ngày 14 tháng 05 năm 2010
     
     
    Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản, ký tại Du bai, ngày 16 tháng 02 năm 2009, có hiệu lực từ ngày 12 tháng 4 năm 2010.
     
     

    Nơi nhận:
    - Văn phòng Quốc hội (để báo cáo);
    - Văn phòng Chủ tịch nước (để báo cáo);
    - Văn phòng Chính phủ (để báo cáo);
    - Phòng Công báo, Văn phòng Chính phủ (để đăng Công báo);
    - Bộ Tài chính;
    - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;
    - Đại sứ quán Việt Nam tại Các Tiểu Vương quốc A-rập;
    - Vụ Tây Á Châu Phi, Bộ Ngoại giao;
    - Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế, BNG.
    TL. BỘ TRƯỞNG
    KT. VỤ TRƯỞNG
    VỤ LUẬT PHÁP VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ
    PHÓ VỤ TRƯỞNG




    Nguyễn Mạnh Đông
     
    HIỆP ĐỊNH
    GIỮA
    CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    CHÍNH PHỦ CÁC TIỂU VƯƠNG QUỐC A-RẬP THỐNG NHẤT
    VỀ
    TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN
    NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ
    ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP VÀ TÀI SẢN
     
    Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất,
    Mong muốn thúc đẩy và tăng cường quan hệ kinh tế thông qua việc ký kết một Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản,
    Đã thỏa thuận như sau:
    ĐIỀU 1. PHẠM VI ÁP DỤNG
    Hiệp định này áp dụng đối với các đối tượng là đối tượng cư trú của một hoặc của cả hai Nước ký kết.
    ĐIỀU 2. CÁC LOẠI THUẾ BAO GỒM TRONG HIỆP ĐỊNH
    1. Hiệp định này áp dụng đối với các loại thuế do một Nước ký kết hoặc chính quyền địa phương của Nước đó đánh vào thu nhập và tài sản, bất kể hình thức áp dụng của các loại thuế đó như thế nào.
    2. Tất cả các loại thuế thu trên tổng thu nhập và tài sản, hoặc những phần của thu nhập bao gồm các loại thuế đối với thu nhập từ việc chuyển nhượng động sản hoặc bất động sản, các loại thuế đánh trên tổng số tiền lương hoặc tiền công do doanh nghiệp trả.
    3. Các loại thuế hiện hành được áp dụng trong Hiệp định này là:
    (a) tại Việt Nam:
    (i) thuế thu nhập cá nhân; và
    (ii) thuế thu nhập doanh nghiệp;
    (sau đây gọi là “thuế Việt Nam”);
    (b) tại Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất:
    (i) thuế thu nhập; và
    (ii) thuế công ty;
    (sau đây gọi là “thuế UAE”).
    4. Hiệp định này cũng sẽ được áp dụng đối với các loại thuế có tính chất tương tự hoặc về cơ bản giống như các loại thuế nêu trên được ban hành sau ngày ký Hiệp định này để bổ sung, hoặc thay thế các loại thuế hiện hành. Các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ thông báo cho nhau biết những thay đổi cơ bản trong các luật thuế của mỗi nước.
    ĐIỀU 3. CÁC ĐỊNH NGHĨA CHUNG
    1. Theo nội dung của Hiệp định này, trừ trường hợp ngữ cảnh đòi hỏi có sự giải thích khác:
    (a) Thuật ngữ “Việt Nam” có nghĩa là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khi dùng theo nghĩa địa lý, thuật ngữ này có nghĩa là lãnh thổ đất liền, các hải đảo, nội thủy, lãnh hải và vùng trời phía trên đó, vùng biển ngoài lãnh hải, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán phù hợp với pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế;
    (b) Thuật ngữ “Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất”, có nghĩa là Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất và khi được dùng theo nghĩa địa lý, có nghĩa là lãnh thổ đất liền thuộc chủ quyền cũng như vùng lãnh hải, vùng trời và vùng biển ngoài lãnh hải mà Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất thực hiện chủ quyền phù hợp với pháp luật quốc tế và pháp luật của Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất, bao gồm đất liền và các hải đảo thuộc quyền tài phán của nó đối với bất kỳ hoạt động nào được thực hiện liên quan đến việc tìm kiếm hay khai thác các tài nguyên thiên nhiên;
    (c) Thuật ngữ “Nước ký kết” và “Nước ký kết kia” có nghĩa là Việt Nam hoặc Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất tùy ngữ cảnh đòi hỏi;
    (d) Thuật ngữ “đối tượng” bao gồm cá nhân, công ty hoặc bất kỳ tổ chức nào khác gồm nhiều đối tượng;
    (e) Thuật ngữ “công ty” để chỉ các tổ chức công ty hoặc bất kỳ một thực thể nào được coi là tổ chức công ty dưới giác độ thuế;
    (f) Thuật ngữ “doanh nghiệp của Nước ký kết” và “doanh nghiệp của Nước ký kết kia” theo thứ tự có nghĩa là một doanh nghiệp được điều hành bởi đối tượng cư trú của một Nước ký kết và một doanh nghiệp được điều hành bởi đối tượng cư trú của Nước ký kết kia;
    (g) Thuật ngữ “đối tượng mang quốc tịch” có nghĩa:
    (i) bất kỳ cá nhân nào mang quốc tịch của một Nước ký kết; và
    (ii) bất kỳ pháp nhân, tổ chức hùn vốn và hiệp hội nào có địa vị được chấp nhận theo các luật có hiệu lực tại một Nước ký kết;
    (h) Thuật ngữ “vận tải quốc tế” có nghĩa là bất cứ sự vận chuyển nào bằng tàu thủy, hoặc máy bay do một doanh nghiệp đăng ký tại một Nước ký kết điều hành, trừ trường hợp chiếc tàu thủy, máy bay đó chỉ hoạt động giữa những địa điểm trong Nước ký kết kia;
    (i) Thuật ngữ “nhà chức trách có thẩm quyền” có nghĩa:
    (i) đối với Việt Nam, là Bộ trưởng Bộ Tài chính hoặc người đại diện được ủy quyền của Bộ trưởng;
    (ii) đối với Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất, là Bộ trưởng Tài chính hoặc người đại diện được ủy quyền của Bộ trưởng.
    2. Trong khi một Nước ký kết áp dụng Hiệp định này vào bất cứ thời điểm nào, các thuật ngữ chưa được định nghĩa tại Hiệp định này, trừ trường hợp ngữ cảnh đòi hỏi có cách giải thích khác, sẽ có nghĩa theo như định nghĩa tại thời điểm đó trong luật của Nước đó liên quan đến các loại thuế mà Hiệp định này áp dụng, mọi định nghĩa trong các luật thuế đang được áp dụng của Nước đó sẽ có giá trị áp dụng cao hơn định nghĩa đối với thuật ngữ này theo quy định của các luật khác của Nước đó.
    ĐIỀU 4. ĐỐI TƯỢNG CƯ TRÚ
    1. Theo nội dung của trong Hiệp định này, thuật ngữ “đối tượng cư trú” trong trường hợp của Việt Nam có nghĩa là bất cứ đối tượng nào, mà theo các luật của Việt Nam, là đối tượng chịu thuế căn cứ vào nhà ở, nơi cư trú, trụ sở đăng ký, trụ sở điều hành hoặc các tiêu chuẩn khác có tính chất tương tự. Thuật ngữ này cũng bao gồm Nhà nước Việt Nam và bất cứ cơ quan chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương của Việt Nam. Tuy nhiên, thuật ngữ này không bao gồm các đối tượng là đối tượng chịu thuế tại Việt Nam chỉ đối với thu nhập từ các nguồn tại Việt Nam hoặc tài sản nằm tại Việt Nam.
    2. Theo nội dung của Hiệp định này, thuật ngữ “đối tượng cư trú” trong trường hợp của Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất có nghĩa là:
    (i) Chính phủ của Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất, cơ quan chính quyền cơ sở, chính quyền địa phương hay tổ chức của chính phủ của Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất;
    (ii) một cá nhân mà theo pháp luật của Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất được coi là đối tượng cư trú; và
    (iii) một công ty hay bất kỳ một pháp nhân nào khác được thành lập theo pháp luật của Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất.
    3. Trường hợp theo các quy định tại khoản 1 và 2, khi một cá nhân là đối tượng cư trú của cả hai Nước ký kết, thì thân phận cư trú của cá nhân đó sẽ được xác định như sau:
    (a) cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước mà tại đó cá nhân đó có nhà ở thường trú; nếu cá nhân đó có nhà ở thường trú ở cả hai Nước, cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước mà cá nhân đó có các quan hệ cá nhân và kinh tế chặt chẽ hơn (trung tâm của các quyền lợi chủ yếu);
    (b) nếu như không thể xác định được Nước nơi cá nhân đó có trung tâm các quyền lợi chủ yếu, hoặc nếu cá nhân đó không có nhà ở thường trú ở cả hai Nước thì cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú chỉ của Nước mà cá nhân đó thường sống;
    (c) nếu cá nhân đó thường xuyên sống ở cả hai Nước hoặc không thường xuyên sống ở Nước nào thì cá nhân đó sẽ được coi là đối tượng cư trú của Nước mà cá nhân đó mang quốc tịch;
    (d) nếu cá nhân đó là đối tượng mang quốc tịch của cả hai Nước hoặc không mang quốc tịch của Nước nào, nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ giải quyết vấn đề đó bằng thỏa thuận chung.
    3. Trường hợp do các quy định tại khoản 1 và 2, khi một đối tượng không phải là cá nhân, là đối tượng cư trú của cả hai Nước ký kết, khi đó, đối tượng trên sẽ được coi là đối tượng cư trú của Nước nơi có trụ sở đăng ký của đối tượng đó.
    ĐIỀU 5. CƠ SỞ THƯỜNG TRÚ
    1. Theo nội dung của Hiệp định này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” có nghĩa là một địa điểm kinh doanh cố định mà qua đó doanh nghiệp thực hiện toàn bộ hoặc một phần hoạt động kinh doanh của mình
    2. Thuật ngữ “cơ sở thường trú” chủ yếu bao gồm:
    (a) trụ sở điều hành;
    (b) chi nhánh;
    (c) văn phòng;
    (d) nhà máy;
    (e) xưởng;
    (f) kho hàng; và
    (g) mỏ, giếng dầu hoặc khí, mỏ đá hoặc bất kỳ địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên nào khác.
    3. Thuật ngữ “cơ sở thường trú” cũng bao gồm:
    (a) một địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp ráp hoặc lắp đặt hoặc các hoạt động giám sát có liên quan, nhưng chỉ khi địa điểm, công trình hoặc các hoạt động đó kéo dài trong giai đoạn hơn sáu tháng;
    (b) việc cung cấp các dịch vụ, bao gồm dịch vụ tư vấn do một doanh nghiệp thực hiện thông qua người làm công cho doanh nghiệp hoặc một đối tượng khác được doanh nghiệp ủy nhiệm thực hiện tại Nước ký kết kia, nhưng chỉ trong trường hợp những hoạt động mang tính chất nêu trên (trong cùng một dự án hoặc một dự án có liên quan) kéo dài tại một Nước trong một khoảng thời gian hoặc nhiều khoảng thời gian gộp lại hơn 6 tháng trong bất kỳ giai đoạn 12 tháng;
    (c) một đối tượng tiến hành các hoạt động tại một Nước ký kết (kể cả các hoạt động ngoài khơi) liên quan đến việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên có tại Nước ký kết đó sẽ được coi như là tiến hành kinh doanh thông qua một cơ sở thường trú tại Nước ký kết đó.
    4. Mặc dù có các quy định trên của Điều này, thuật ngữ “cơ sở thường trú” sẽ được coi là không bao gồm:
    (a) việc sử dụng các phương tiện chỉ với mục đích lưu kho hoặc trưng bày hàng hóa của doanh nghiệp;
    (b) việc duy trì kho hàng hóa hoặc tài sản của doanh nghiệp chỉ với mục đích lưu kho hoặc trưng bày;
    (c) việc duy trì kho hàng hóa hoặc tài sản của doanh nghiệp chỉ với mục đích chỉ để cho doanh nghiệp khác gia công;
    (d) việc duy trì một địa điểm kinh doanh cố định chỉ với mục đích mua hàng hóa hoặc để thu thập thông tin cho doanh nghiệp;
    (e) việc duy trì một địa điểm kinh doanh cố định chỉ với mục đích tiến hành bất cứ hoạt động nào khác mang tính chất chuẩn bị hoặc phụ trợ cho doanh nghiệp; và
    (f) việc duy trì một địa điểm kinh doanh cố định chỉ để phục vụ cho bất kỳ sự kết hợp nào của các hoạt động đã được nêu từ điểm (a) đến điểm (e), với điều kiện toàn bộ hoạt động của địa điểm kinh doanh cố định bắt nguồn từ sự kết hợp nào có tính chất chuẩn bị hoặc phụ trợ.
    5. Mặc dù có những quy định tại khoản 1 và 2, trường hợp một đối tượng – trừ đại lý có tư cách độc lập được điều chỉnh bởi khoản 7 – hoạt động tại một Nước ký kết thay mặt cho một doanh nghiệp của Nước ký kết kia, doanh nghiệp đó sẽ được coi là có cơ sở thường trú tại Nước ký kết thứ nhất đối với các hoạt động mà đối tượng trên thực hiện cho doanh nghiệp, nếu đối tượng đó:
    (a) có và thường xuyên thực hiện tại Nước đó thẩm quyền ký kết các hợp đồng đứng tên doanh nghiệp, trừ khi các hoạt động của đối tượng này chỉ giới hạn trong phạm vi các hoạt động nêu tại khoản 4 mà các hoạt động đó nếu được thực hiện thông qua một địa điểm kinh doanh cố định thì sẽ không làm cho địa điểm kinh doanh cố định này trở thành một cơ sở thường trú theo các quy định tại khoản đó; hoặc
    (b) duy trì ở Nước thứ nhất – một kho hàng hóa của doanh nghiệp mà từ đó đối tượng thường xuyên giao hàng hóa cho doanh nghiệp, nếu được thực hiện thông qua một địa điểm kinh doanh cố định thì sẽ không làm cho địa điểm kinh doanh cố định này trở thành một cơ sở thường trú theo các quy định của khoản đó; hoặc
    (c) duy trì các đơn hàng ở Nước thứ nhất cho hoặc chủ yếu cho bản thân doanh nghiệp, hoặc cho doanh nghiệp đó và các doanh nghiệp khác do đối tượng đó kiểm soát, hoặc đối tượng đó có quyền kiểm soát tại đó.
    6. Mặc dù có các quy định trên của Điều này, một tổ chức bảo hiểm của một Nước ký kết, trừ trường hợp tái bảo hiểm, sẽ được coi là có cơ sở thường trú tại Nước ký kết kia nếu tổ chức đó thu phí bảo hiểm hoặc bảo hiểm các rủi ro tại Nước ký kết kia thông qua một đối tượng không phải là một đại lý có tư cách độc lập được điều chỉnh bởi khoản 7.
    7. Một doanh nghiệp của một Nước ký kết sẽ không được coi là có một cơ sở thường trú tại Nước ký kết kia chỉ vì doanh nghiệp đó chỉ thực hiện hoạt động kinh doanh tại Nước đó thông qua một đại lý môi giới, một đại lý hoa hồng hoặc bất kỳ một đại lý nào khác có tư cách độc lập, với điều kiện là các đối tượng này hoạt động trong khuôn khổ kinh doanh thông thường của họ. Tuy nhiên, khi các hoạt động của đại lý đó dành toàn bộ hoặc hầu như toàn bộ thay mặt cho doanh nghiệp đó, và có các điều kiện hoặc các điều kiện ràng buộc giữa doanh nghiệp đó và đại lý đó trong các quan hệ thương mại và tài chính khác với điều kiện được thiết lập giữa các doanh nghiệp độc lập, đại lý đó sẽ không được coi là đại lý có tư cách độc lập theo nghĩa của khoản này.
    8. Việc một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết kiểm soát hoặc chịu sự kiểm soát bởi một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia, hoặc tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia (có thể thông qua một cơ sở thường trú hoặc dưới hình thức khác), sẽ không làm cho bất kỳ công ty nào trở thành cơ sở thường trú của công ty kia.
    ĐIỀU 6. THU NHẬP TỪ BẤT ĐỘNG SẢN
    1. Thu nhập mà một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ bất động sản (kể cả thu nhập từ nông nghiệp hoặc lâm nghiệp) có tại Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
    2. Thuật ngữ “bất động sản” sẽ có nghĩa theo như luật của Nước ký kết nơi có bất động sản đó. Thuật ngữ này trong mọi trường hợp sẽ bao gồm cả những phần tài sản phụ kèm theo bất động sản, đàn gia súc và thiết bị sử dụng trong nông nghiệp và lâm nghiệp, các quyền lợi được áp dụng theo như các quy định tại luật chung về điền sản, quyền sử dụng bất động sản và các quyền được hưởng các khoản thanh toán cố định hoặc không cố định trả cho việc khai thác hoặc quyền khai thác các mỏ, nguồn khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác; các tàu thủy và máy bay sẽ không được coi là bất động sản.
    3. Các quy định tại khoản 1 sẽ áp dụng đối với thu nhập phát sinh từ việc trực tiếp sử dụng, cho thuê, hoặc sử dụng dưới bất kỳ hình thức nào khác của bất động sản.
    4. Các quy định tại khoản 1 và 3 cũng sẽ áp dụng đối với thu nhập từ bất động sản của một doanh nghiệp và đối với thu nhập từ bất động sản được sử dụng để thực hiện các dịch vụ cá nhân độc lập.
    ĐIỀU 7. LỢI NHUẬN KINH DOANH
    1. Lợi nhuận của một doanh nghiệp của một Nước ký kết sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó, trừ trường hợp doanh nghiệp có tiến hành kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú tại Nước ký kết kia. Nếu doanh nghiệp có tiến hành kinh doanh theo cách trên, thì các khoản lợi nhuận của doanh nghiệp có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia, nhưng chỉ trên phần lợi nhuận phân bổ cho: (a) cơ sở thường trú đó; (b) việc bán tại Nước ký kết kia các hàng hóa cùng loại hoặc tương tự với các loại hàng hóa hoặc tài sản được bán thông qua cơ sở thường trú đó; hoặc (c) các hoạt động kinh doanh khác được thực hiện tại Nước ký kết kia cùng loại hoặc tương tự với các hoạt động được thực hiện thông qua cơ sở thường trú đó.
    2. Theo các quy định tại khoản 3, khi một doanh nghiệp của một Nước ký kết tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia, thông qua một cơ sở thường trú tại Nước ký kết kia, thì tại mỗi Nước ký kết sẽ có những khoản lợi nhuận được phân bổ cho cơ sở thường trú nói trên mà cơ sở thường trú đó có thể thu được nếu nó là một doanh nghiệp riêng và tách biệt cùng tham gia vào các hoạt động như nhau hoặc tương tự trong cùng các điều kiện như nhau hoặc tương tự và có quan hệ hoàn toàn độc lập với doanh nghiệp mà cơ sở đó được coi là cơ sở thường trú.
    3. Trong khi xác định lợi nhuận của một cơ sở thường trú, cơ sở này sẽ được phép khấu trừ các khoản chi phí phát sinh phục vụ cho mục đích kinh doanh của cơ sở thường trú này, bao gồm cả chi phí điều hành và chi phí quản lý chung cho dù chi phí đó phát sinh tại Nước nơi có cơ sở thường trú đó hoặc ở bất cứ nơi nào khác. Tuy nhiên, sẽ không cho phép tính vào các khoản chi phí được trừ bất kỳ khoản tiền nào, nếu có, do cơ sở thường trú trả cho (trừ khi là khoản thanh toán các chi phí thực tế) trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc bất kỳ văn phòng nào khác của doanh nghiệp dưới hình thức tiền bản quyền, các khoản phí hoặc bất kỳ khoản thanh toán tương tự nào khác để được phép sử dụng bằng phát minh hoặc các quyền khác, hoặc dưới hình thức tiền hoa hồng trả cho việc thực hiện các dịch vụ riêng biệt hoặc trả cho công việc quản lý, hoặc dưới hình thức lãi tính trên tiền cho cơ sở thường trú vay, trừ trường hợp tiền lãi của một cơ sở ngân hàng. Tương tự như vậy, khi xác định lợi nhuận của cơ sở thường trú sẽ không tính đến các khoản tiền (trừ các khoản tiền thanh toán các chi phí thực tế) do cơ sở thường trú thu từ trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc bất kỳ văn phòng khác của doanh nghiệp, dưới hình thức tiền bản quyền, các khoản phí hoặc các khoản thanh toán tương tự để cho phép sử dụng bằng phát minh hoặc các quyền khác, hoặc dưới hình thức tiền hoa hồng trả cho việc thực hiện các dịch vụ riêng biệt hoặc trả cho công việc quản lý, hoặc dưới hình thức lãi tính trên tiền cho trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc bất kỳ văn phòng nào của doanh nghiệp vay, trừ trường hợp lãi từ tiền cho vay của cơ sở ngân hàng.
    4. Trường hợp tại một Nước ký kết vẫn thường xác định các khoản lợi nhuận được phân bổ cho một cơ sở thường trú trên cơ sở phân chia tổng các khoản lợi nhuận của doanh nghiệp thành những phần khác nhau, thì không có nội dung nào tại khoản 2 ngăn cản Nước ký kết đó xác định lợi nhuận chịu thuế theo cách phân chia theo thông lệ trên; tuy nhiên, phương pháp phân chia được áp dụng như vậy phải đưa ra kết quả phù hợp với những nguyên tắc nêu tại Điều này.
    5. Theo nội dung các khoản trên, các khoản lợi nhuận được phân bổ cho cơ sở thường trú sẽ được xác định theo cùng một phương pháp giữa các năm trừ khi có đủ lý do chính đáng để xác định theo phương pháp khác.
    6. Khi lợi nhận bao gồm các khoản thu nhập được đề cập riêng tại các Điều khác của Hiệp định này, thì các quy định của các Điều đó không bị ảnh hưởng bởi các quy định tại Điều này.
    ĐIỀU 8. VẬN TẢI BIỂN VÀ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG
    1. Lợi nhuận thu được từ hoạt động của tàu thủy, máy bay trong vận tải quốc tế sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi doanh nghiệp đăng ký.
    2. Các quy định tại khoản 1 cũng sẽ áp dụng cho các khoản lợi nhuận từ việc tham gia vào một tổ hợp, một liên doanh hoặc một hãng hoạt động quốc tế.
    3. Theo nội dung của Điều này, lợi nhuận từ hoạt động của tàu thủy hoặc máy bay trong vận tải quốc tế bao gồm lợi nhuận từ việc cho thuế công-ten-nơ dùng để vận chuyển hàng hóa, khi việc cho thuê có tính chất phụ kèm theo hoạt động của tàu thủy hoặc máy bay trong vận tải quốc tế.
    ĐIỀU 9. CÁC DOANH NGHIỆP LIÊN KẾT
    Khi:
    (a) một doanh nghiệp của một Nước ký kết tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp của Nước ký kết kia, hoặc
    (b) các đối tượng cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp của một Nước ký kết và vào một doanh nghiệp của Nước ký kết kia,
    và trong cả hai trường hợp, trong mối quan hệ thương mại hoặc tài chính giữa hai doanh nghiệp trên có những điều kiện được xác lập hoặc áp đặt khác với điều kiện được đưa ra giữa các doanh nghiệp độc lập, lúc đó mọi khoản lợi nhuận mà một doanh nghiệp có thể thu được nếu không có các điều kiện trên nhưng nay vì các điều kiện này mà doanh nghiệp đó không thu được, sẽ vẫn được tính vào các khoản lợi nhuận của doanh nghiệp đó và bị đánh thuế tương ứng.
    ĐIỀU 10. TIỀN LÃI CỔ PHẦN
    1. Tiền lãi cổ phần do một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế ở Nước ký kết kia.
    2. Tuy nhiên, các khoản tiền lãi cổ phần đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi công ty trả tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú và theo các luật của Nước đó, nhưng nếu đối tượng thực hưởng tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia thì thuế được tính khi đó sẽ không vượt quá:
    (a) 5 phần trăm tổng số tiền lãi cổ phần nếu đối tượng thực hưởng là một công ty (không phải là một hợp danh) nắm giữ trực tiếp trên 50 phần trăm hoặc ít nhất 10 triệu đô-la Mỹ vốn của công ty trả tiền lãi cổ phần;
    (b) 15 phần trăm tổng số tiền lãi cổ phần trong tất cả các trường hợp khác.
    Khoản này sẽ không ảnh hưởng tới việc đánh thuế công ty đối với lợi nhuận dùng để chia lãi cổ phần.
    3. Mặc dù có các quy định tại khoản 1 và 2, tiền lãi cổ phần do một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia sẽ chỉ bị đánh thuế ở Nước ký kết kia nếu đối tượng thực hưởng tiền lãi cổ phần là Chính phủ của Nước ký kết kia hoặc bất kỳ tổ chức nào của Nước ký kết đó hoặc thực thể khác mà vốn của nó do Chính phủ của Nước ký kết kia sở hữu toàn bộ.
    4. Thuật ngữ “tiền lãi cổ phần” được sử dụng trong Điều này có nghĩa là thu nhập từ cổ phần, cổ phần “jouissance” hoặc quyền “jouissance”, cổ phần khai thác mỏ, cổ phần của người sáng lập hoặc các quyền khác không phải các khoản nợ, được hưởng lợi nhuận, cũng như thu nhập – kể  cả thu nhập từ các quyền công ty khác chịu sự điều chỉnh của chính sách thuế đối với thu nhập từ cổ phần theo luật thuế của Nước nơi công ty trả lãi cổ phần hoặc thu nhập hoặc thực hiện phân chia là một đối tượng cư trú.
    5. Các quy định tại khoản 1, 2 và 3 của Điều này sẽ không áp dụng trong trường hợp đối tượng thực hưởng các khoản tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú của một Nước ký kết có tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia, nơi công ty trả tiền lãi cổ phần là đối tượng cư trú thông qua một cơ sở thường trú nằm tại Nước ký kết đó, hoặc tiến hành tại Nước ký kết kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định nằm tại Nước ký kết kia, và quyền nắm mà theo đó các khoản tiền lãi cổ phần được trả có sự liên hệ thực tế đến cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định nói trên. Trong trường hợp như vậy các quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14, tùy theo trường hợp, sẽ được áp dụng.
    6. Khi một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được lợi nhuận hoặc thu nhập phát sinh từ Nước ký kết kia thì Nước ký kết kia có thể không đánh thuế đối với những khoản tiền lãi cổ phần do công ty này trả, trừ trường hợp các khoản tiền lãi cổ phần này được trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia hoặc việc nắm giữ mà theo đó các khoản tiền lãi cổ phần được trả có sự liên hệ thực tế với một cơ sở thường trú hoặc một cơ sở cố định tại Nước ký kết kia, đồng thời Nước ký kết kia cũng không buộc các khoản lợi nhuận không chia của công ty trên phải chịu thuế đối với những khoản lợi nhuận không chia của công ty, cho dù các khoản tiền lãi cổ phần được chia hoặc các khoản lợi nhuận không chia bao gồm toàn bộ hoặc một phần các khoản lợi nhuận hoặc thu nhập phát sinh tại Nước ký kết kia.
    ĐIỀU 11. LÃI TỪ TIỀN CHO VAY
    1. Lãi từ tiền cho vay phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
    2. Tuy nhiên, khoản tiền lãi này cũng có thể bị đánh thuế ở Nước ký kết nơi phát sinh lãi và theo luật pháp của Nước đó, nhưng nếu đối tượng thực hưởng các khoản tiền lãi này là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia thì mức thuế được tính khi đó sẽ không vượt quá 10 phần trăm tổng số khoản lãi từ tiền cho vay.
    3. Mặc dù đã có các quy định tại khoản 1 và 2,
    (a) lãi từ tiền cho vay do Chính phủ Việt Nam trả cho Chính phủ Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất, Ngân hàng Trung ương, Hội đồng đầu tư Abu Dhabi, Cơ quan đầu tư Abu Dhabi, Công ty đầu tư Dubai, các Quỹ phát triển, các chính quyền địa phương, các Quỹ lương hưu, và bất kỳ các Quỹ hay Công ty nào khác do Chính phủ sở hữu sẽ được miễn thuế Việt Nam;
    (b) lãi từ tiền cho vay do Chính phủ Các Tiểu vương quốc A-rập Thống Nhất trả cho Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Việt Nam hoặc các chính quyền địa phương của Việt Nam sẽ được miễn thuế U.A.E.
    4. Thuật ngữ “lãi từ tiền cho vay” được sử dụng trong Điều này có nghĩa là thu nhập từ các khoản cho vay dưới bất kỳ hình thức nào, có hoặc không được đảm bảo bằng thế chấp và có hoặc không có quyền được hưởng lợi nhuận của người đi vay và đặc biệt là khoản thu nhập từ chứng khoán của Chính phủ và thu nhập từ trái phiếu hoặc trái phiếu công ty, bao gồm cả tiền thưởng và giải thưởng đi liền với các khoản chứng khoán, trái phiếu hoặc trái phiếu công ty đó. Các khoản phạt trả chậm sẽ không được coi là lãi từ tiền cho vay theo quy định của Điều này.
    5. Các quy định tại khoản 1 và 2 sẽ không áp dụng nếu đối tượng thực hưởng các khoản lãi từ tiền cho vay là đối tượng cư trú tại một Nước ký kết, tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia nơi phát sinh các khoản lãi từ tiền cho vay thông qua một cơ sở thường trú tại Nước ký kết kia, hoặc thực hiện tại Nước ký kết kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định tại Nước ký kết kia và khoản nợ có các khoản tiền lãi được trả này có sự liên hệ thực tế với (a) cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó, hoặc với (b) các hoạt động kinh doanh nêu tại điểm (c) khoản 1 Điều 7. Trong trường hợp này, các quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
    6. Lãi từ tiền cho vay sẽ được coi là phát sinh tại một Nước ký kết khi người trả lãi là đối tượng cư trú của Nước đó. Tuy nhiên, khi đối tượng trả lãi có ở một Nước ký kết một cơ sở thường trú hoặc một cơ sở cố định liên quan đến các khoản nợ đã phát sinh các khoản lãi này, và khoản tiền lãi đó do cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó chịu thì dù đối tượng có là đối tượng cư trú của một Nước ký kết hay không, khoản tiền lãi này sẽ vẫn được coi là phát sinh ở Nước nơi có cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó.
    7. Trường hợp do mối quan hệ đặc biệt giữa đối tượng trả lãi và đối tượng thực hưởng tiền lãi hoặc giữa cả hai đối tượng trên và các đối tượng khác, khoản lãi từ tiền cho vay được trả cho khoản nợ có liên quan, vượt quá khoản tiền được thỏa thuận giữa đối tượng trả lãi và đối tượng thực hưởng khi không có mối quan hệ này, thì khi đó, các quy định tại Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với các khoản tiền thanh toán khi không có mối quan hệ đặc biệt trên. Trong trường hợp này, phần thanh toán vượt sẽ bị đánh thuế theo các luật của từng Nước ký kết có xem xét tới các quy định khác của Hiệp định này.
    ĐIỀU 12. TIỀN BẢN QUYỀN
    1. Tiền bản quyền phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
    2. Tuy nhiên, các khoản tiền bản quyền này cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi phát sinh tiền bản quyền, và theo các luật của Nước đó, nhưng nếu đối tượng thực hưởng tiền bản quyền là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia thì mức thuế được tính khi đó sẽ không vượt quá 10 phần trăm tổng số tiền bản quyền.
    3. Thuật ngữ “tiền bản quyền” được sử dụng tại Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán dưới bất kỳ hình thức nào được trả cho việc sử dụng, hoặc quyền sử dụng, bản quyền tác giả của một tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học, kể cả phim điện ảnh, hoặc các loại phim hoặc băng dùng cho phát thanh hoặc truyền hình, bằng phát minh, nhãn hiệu thương mại, thiết kế hoặc mẫu, đồ án, công thức hoặc quy trình bí mật, hoặc cho việc sử dụng, hoặc quyền sử dụng thiết bị công nghiệp, thương mại hoặc khoa học, hoặc cho thông tin liên quan đến các kinh nghiệm công nghiệp, thương mại hoặc khoa học.
    4. Các quy định tại khoản 1 và 2 sẽ không áp dụng nếu đối tượng thực hiện các khoản tiền bản quyền, là một đối tượng cư trú của một Nước ký kết, tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia nơi có khoản tiền bản quyền phát sinh, thông qua một cơ sở thường trú có tại Nước ký kết kia, hoặc tiến hành tại Nước ký kết kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định có tại Nước ký kết kia, và quyền hoặc tài sản có các khoản tiền bản quyền được trả có sự liên hệ thực tế với a) cơ sở thường trú hoặc với cơ sở cố định đó, hoặc b) các hoạt động kinh doanh được nêu tại điểm (c) khoản 1 Điều 7. Trong trường hợp này các quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
    5. Tiền bản quyền sẽ được coi là phát sinh tại một Nước ký kết khi đối tượng trả là đối tượng cư trú của Nước đó. Tuy nhiên, khi một đối tượng trả tiền bản quyền, là hoặc không là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, có ở một Nước ký kết một cơ sở thường trú hoặc một cơ sở cố định liên quan đến trách nhiệm trả tiền bản quyền đã phát sinh và tiền bản quyền đó do cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó chịu thì khoản tiền bản quyền này sẽ vẫn được coi là phát sinh ở Nước nơi có cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó.
    6. Trường hợp do mối quan hệ đặc biệt giữa đối tượng trả và đối tượng thực hưởng hoặc giữa cả hai đối tượng trên với các đối tượng khác, khoản tiền bản quyền được trả cho việc sử dụng, quyền hoặc thông tin, vượt quá khoản tiền được thỏa thuận giữa đối tượng trả và đối tượng thực hưởng khi không có mối quan hệ đặc biệt này, thì các quy định của Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với khoản tiền thanh toán khi không có mối quan hệ trên. Trong trường hợp này, phần thanh toán vượt sẽ bị đánh thuế theo các luật của từng Nước ký kết có xem xét đến các quy định khác của Hiệp định này.
    ĐIỀU 13. THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƯỢNG TÀI SẢN
    1. Thu nhập do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được từ chuyển nhượng bất động sản được nêu tại Điều 6 và có tại Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
    2. Thu nhập từ chuyển nhượng động sản là một phần của tài sản kinh doanh của một cơ sở thường trú mà một doanh nghiệp của một Nước ký kết có tại Nước ký kết kia, hoặc động sản thuộc một cơ sở cố định của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết có ở Nước ký kết kia để tiến hành hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập, kể cả thu nhập từ việc chuyển nhượng cơ sở thường trú đó (chuyển nhượng riêng cơ sở thường trú đó hoặc cùng với toàn bộ doanh nghiệp) hoặc cơ sở cố định đó có thể bị đánh thuế tại Nước kia.
    3. Thu nhập từ việc chuyển nhượng tàu thủy hoặc máy bay do một doanh nghiệp của một Nước ký kết điều hành hoạt động trong vận tải quốc tế hoặc động sản gắn liền với việc hoạt động của các tàu thủy, máy bay đó sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi doanh nghiệp đăng ký.
    4. Thu nhập từ việc chuyển nhượng các cổ phần trong vốn cổ phần của một công ty, hoặc quyền lợi trong một công ty hợp danh, tín thác hoặc di sản, mà tài sản của các tổ chức này trực tiếp hoặc gián tiếp chủ yếu bao gồm bất động sản nằm tại một Nước ký kết kia, có thể bị đánh thuế tại Nước đó. Theo nội dung của khoản này, “chủ yếu” liên quan đến quyền sở hữu bất động sản có nghĩa là giá trị của bất động sản đó vượt quá 50% giá trị gộp của tất cả các tài sản do công ty, công ty hợp danh, tín thác hoặc di sản sở hữu.
    5. Không làm ảnh hưởng đến Điều 10, thu nhập từ việc chuyển nhượng các cổ phần không phải là các cổ phần được nêu tại khoản 4 trong một công ty là một đối tượng cư trú của một Nước ký có thể bị đánh thuế tại Nước đó.
    6. Thu nhập từ việc chuyển nhượng bất kỳ tài sản nào khác với tài sản được nêu tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi đối tượng chuyển nhượng là đối tượng cư trú.
    ĐIỀU 14. DỊCH VỤ CÁ NHÂN ĐỘC LẬP
    1. Thu nhập do một cá nhân là đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ các dịch vụ ngành nghề hoặc các hoạt động khác có tính chất độc lập sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó trừ các trường hợp dưới đây, khi đó các khoản thu nhập đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia:
    (a) Nếu đối tượng đó thường xuyên có tại Nước ký kết kia một cơ sở cố định để thực hiện các hoạt động này; trong trường hợp đó, chỉ phần thu nhập phân bổ cho cơ sở cố định có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia; hoặc
    (b) Nếu đối tượng đó có mặt tại Nước ký kết kia trong một khoảng thời gian hoặc nhiều khoảng thời gian gộp lại đến hoặc vượt quá 183 ngày trong bất kỳ giai đoạn 12 tháng nào bắt đầu hoặc kết thúc trong năm tài chính có liên quan; trong trường hợp đó, chỉ phần thu nhập phát sinh từ các hoạt động của đối tượng đó được thực hiện tại Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại nước Nước ký kết kia; hoặc
    (c) Thu nhập do đối tượng đó nhận được từ việc có tài sản được sử dụng để thực hiện các dịch vụ này.
    2. Thuật ngữ “dịch vụ ngành nghề” bao gồm chủ yếu các hoạt động khoa học, văn học, nghệ thuật, giáo dục hoặc giảng dạy mang tính chất độc lập cũng như các hoạt động độc lập của các thầy thuốc, luật sư, kỹ sư, kiến trúc sư, nha sĩ và kế toán viên.
    ĐIỀU 15. DỊCH VỤ CÁ NHÂN PHỤ THUỘC
    1. Thể theo quy định tại các Điều 16, 18 và 19, các khoản tiền lương, tiền công, và các khoản tiền thù lao tương tự khác do một đối tượng cư trú của Nước ký kết thu được từ lao động làm công sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó, trừ khi lao động làm công của đối tượng đó được thực hiện tại Nước ký kết kia. Nếu lao động làm công được thực hiện như vậy, số tiền công trả cho lao động làm công đó có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
    2. Mặc dù có các quy định tại khoản 1, tiền công do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ lao động làm công tại Nước ký kết kia sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước thứ nhất nếu:
    (a) người nhận tiền công hiện có mặt nước tại Nước ký kết kia trong một khoảng thời gian hoặc nhiều thời gian gộp lại không quá 183 ngày trong bất cứ giai đoạn 12 tháng liên tục bắt đầu hoặc kết thúc trong năm tài chính có liên quan, và
    (b) chủ lao động hoặc đối tượng đại diện chủ lao động trả tiền công lao động không phải là đối tượng cư trú tại Nước kia, và
    (c) tiền thù lao không phải phát sinh từ một cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định mà chủ lao động có tại Nước kia.
    3. Mặc dù có những quy định trên của Điều này, tiền công thu được từ lao động làm trên tàu thủy hoặc máy bay hoạt động trong vận tải quốc tế, sẽ chỉ bị đánh thuế ở Nước nơi doanh nghiệp đăng ký.
    ĐIỀU 16. THÙ LAO GIÁM ĐỐC VÀ THÙ LAO NHÂN VIÊN QUẢN LÝ CAO CẤP
    1. Các khoản thù lao cho giám đốc và các khoản thanh toán tương tự khác do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận được với tư cách là thành viên của ban giám đốc của một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
    2. Các khoản tiền lương, tiền công và các khoản tiền thù lao tương tự khác do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được với tư cách là một nhân viên quản lý cao cấp của một công ty là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
    ĐIỀU 17. NGHỆ SĨ VÀ VẬN ĐỘNG VIÊN
    1. Mặc dù có những quy định tại các Điều 14 và 15, thu nhập của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được với tư cách người biểu diễn như diễn viên sân khấu, diễn viên điện ảnh, nghệ sĩ phát thanh, truyền hình, hoặc nhạc công, hoặc với tư cách là vận động viên từ những hoạt động cá nhân của người đó thực hiện tại Nước ký kết kia, có thể bị đánh thuế ở Nước ký kết kia.
    2. Trường hợp thu nhập liên quan đến các hoạt động trình diễn cá nhân của người biểu diễn hoặc vận động viên nhưng không được trả cho bản thân người biểu diễn hoặc vận động viên, mà trả cho một đối tượng khác thì thu nhập này có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi diễn ra những hoạt động trình diễn của người biểu diễn hoặc vận động viên, mặc dù đã có những quy định tại các Điều 7, 14 và 15.
    3. Mặc dù đã có những quy định tại các khoản 1 và 2, thu nhập do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết thu được từ các hoạt động cá nhân của mình như là một nghệ sĩ hoặc vận động viên tại Nước ký kết kia trong khuôn khổ chương trình giao lưu văn hóa giữa Chính phủ của cả hai Nước ký kết sẽ được miễn thuế tại Nước ký kết kia.
    ĐIỀU 18. TIỀN LƯƠNG HƯU VÀ CÁC KHOẢN THANH TOÁN BẢO HIỂM XÃ HỘI
    1. Thể theo các quy định tại khoản 2 Điều 19, tiền lương hưu và các khoản tiền thù lao tương tự khác được trả cho một đối tượng cư trú của một Nước ký kết do các công việc đã làm trước đây sẽ chỉ bị đánh thuế ở Nước đó.
    2. Mặc dù đã có những quy định tại khoản 1, tiền lương hưu và các khoản tiền thanh toán khác được trả theo một chương trình công cộng là một phần của hệ thống bảo hiểm xã hội của một Nước ký kết hoặc chính quyền địa phương của Nước ký kết đó sẽ chỉ bị đánh thuế ở Nước đó.
    ĐIỀU 19. PHỤC VỤ CHÍNH PHỦ
    1. (a) Tiền lương, tiền công và các khoản tiền thù lao tương tự khác, trừ tiền lương hưu, do một Nước ký kết hoặc chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương hoặc các thực thể chính quền địa phương của Nước ký kết đó trả cho một cá nhân đối với việc phục vụ cho Nhà nước hoặc chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương hoặc các thực thể chính quyền địa phương đó sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
    (b) Tuy nhiên, khoản tiền lương, tiền công và các khoản tiền thù lao tương tự khác nêu trên sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết kia nếu việc phục vụ này được thực hiện tại Nước ký kết kia và nếu cá nhân này là một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia, đồng thời:
    (i) là đối tượng mang quốc tịch của Nước ký kết kia; hoặc
    (ii) không trở thành đối tượng cư trú của Nước ký kết kia chỉ đơn thuần vì thực hiện các công việc trên.
    2. (a) Bất kỳ khoản tiền lương hưu nào do một Nước ký kết hoặc chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương hoặc thực thể chính quyền địa phương của Nước ký kết đó lập ra trả cho một cá nhân đối với đối với công việc phục vụ cho Nhà nước hoặc chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương hoặc thực thể chính quyền địa phương đó sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
    (b) Tuy nhiên, các khoản tiền lương hưu này sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước ký kết kia nếu cá nhân này là đối tượng cư trú và là đối tượng mang quốc tịch của Nước ký kết kia.
    3. Những quy định của các Điều 15, 16, 17 và 18 sẽ áp dụng đối với những khoản tiền lương, tiền công và các khoản tiền thù lao tương tự khác và tiền lương hưu đối với các công việc liên quan đến một hoạt động kinh doanh được tiến hành bởi một Nước ký kết hoặc chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương hoặc thực thể của chính quyền địa phương của Nước đó.
    ĐIỀU 20. SINH VIÊN VÀ THỰC TẬP SINH
    Những khoản tiền mà một sinh viên hoặc thực tập sinh nhận được để trang trải các khoản chi phí sinh hoạt, học tập hoặc đào tạo mà người sinh viên hoặc thực tập sinh này ngay trước khi đến một Nước ký kết đang hoặc đã là một đối tượng cư trú của Nước ký kết kia và hiện có mặt tại Nước thứ nhất chỉ với mục đích học tập hoặc đào tạo, sẽ không bị đánh thuế tại Nước đó:
    (a) đối với các khoản thanh toán nhận được có nguồn gốc từ bên ngoài Nước đó dùng để trang trải các chi phí sinh hoạt, học tập, nghiên cứu hoặc đào tạo;
    (b) học bổng do Chính phủ của một Nước ký kết cấp; và
    (c) mặc dù đã có những quy định tại các Điều 14 và 15, khoản thanh toán không vượt quá 1.500 đô-la Mỹ hoặc số tiền tương đương của một Nước ký kết, thu được từ các hoạt động dịch vụ của đối tượng đó trong một năm tính thuế.
    ĐIỀU 21. THU NHẬP KHÁC
    1. Các khoản thu nhập của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết, cho dù phát sinh ở đâu, chưa được đề cập đến tại những Điều trên của Hiệp định này, sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.
    2. Các quy định tại khoản 1 sẽ không áp dụng đối với thu nhập, trừ thu nhập từ bất động sản được định nghĩa tại khoản 2 Điều 6, nếu đối tượng nhận khoản thu nhập đó là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, có tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia thông qua một cơ sở thường trú nằm tại Nước ký kết kia hoặc thực hiện tại Nước kia những hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định tại Nước kia, và quyền hoặc tài sản liên quan đến số thu nhập được chi trả có sự liên hệ thực tế với cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định nói trên. Trong trường hợp như vậy những quy định tại Điều 7 hoặc Điều 14, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.
    3. Mặc dù có những quy định tại các khoản 1 và 2, các khoản thu nhập của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết chưa được đề cập đến tại các Điều trên của Hiệp định này và phát sinh tại Nước ký kết kia cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
    ĐIỀU 22. TÀI SẢN
    1. Tài sản là bất động sản được nêu tại Điều 6 do một đối tượng cư trú của một Nước ký kết sở hữu và có tại Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
    2. Tài sản là động sản là một phần của tài sản kinh doanh của một cơ sở thường trú của một doanh nghiệp của một Nước ký kết có tại Nước ký kết kia hoặc là động sản thuộc một cơ sở cố định của một đối tượng cư trú của một Nước ký kết có tại Nước ký kết kia để thực hiện các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết kia.
    3. Tài sản là tàu thủy, máy bay hoạt động trong vận tải quốc tế và tài sản là động sản liên quan đến hoạt động của tàu thủy, máy bay đó sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước nơi doanh nghiệp đăng ký.
    ĐIỀU 23. CÁC BIỆN PHÁP XÓA BỎ VIỆC ĐÁNH THUẾ HAI LẦN
    1. Tại Việt Nam, việc tránh đánh thuế hai lần sẽ được thực hiện như sau:
    (a) Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam nhận được thu nhập hoặc sở hữu tài sản, lợi nhuận hoặc thu nhập từ chuyển nhượng tài sản mà theo luật của Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất và phù hợp với Hiệp định này, có thể bị đánh thuế tại Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất, Việt Nam sẽ cho phép khấu trừ vào thuế đánh trên thu nhập hoặc tài sản một khoản tiền bằng số tiền thuế đã nộp tại Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất. Tuy nhiên, khoản tiền thuế được khấu trừ sẽ không vượt quá số thuế Việt Nam đánh trên thu nhập, lợi nhuận hoặc thu nhập từ chuyển nhượng tài sản đó được tính phù hợp với các luật và quy định về thuế của Việt Nam.
    (b) Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam thu được thu nhập hoặc sở hữu tài sản mà theo các quy định của Hiệp định này sẽ chỉ bị đánh thuế tại Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất, tuy nhiên, Việt Nam, trong khi tính thuế trên phần thu nhập còn lại của đối tượng cư trú đó tại Việt Nam, có thể tính đến phần thu nhập được miễn thuế.
    2. Tại Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất, việc tránh đánh thuế hai lần sẽ được thực hiện như sau:
    (a) Trường hợp một đối tượng cư trú của Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất nhận được thu nhập, mà phù hợp với các quy định của Hiệp định này, có thể bị đánh thuế tại Việt Nam, khi đó Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất sẽ cho phép khấu trừ vào phần thuế đánh trên thu nhập của đối tượng cư trú đó một số tiền bằng với số thuế thu nhập đã nộp tại Việt Nam.
    Tuy nhiên, số thuế được khấu trừ đó sẽ không vượt quá phần thuế đối với thu nhập đó phân bổ trên thu nhập có thể bị đánh thuế tại Việt Nam, như đã được tính trước khi cho phép trừ.
    (b) Trường hợp, phù hợp với bất kỳ quy định nào của Hiệp định, thu nhập do một đối tượng cư trú của Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất nhận được được miễn thuế tại Việt Nam, tuy nhiên, khi tính số thuế thu trên thu nhập còn lại, Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất có thể tính đến khoản thu nhập được miễn đó.
    c) Trong trường hợp tiền lãi cổ phần do một công ty là đối tượng cư trú của Việt Nam trả cho một công ty là đối tượng cư trú của Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất và đối tượng đó kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% quyền bỏ phiếu tại công ty trả tiền lãi cổ phần (cùng với số thuế Việt Nam có thể được phép khấu trừ theo quy định của điểm 2 (a)) việc khấu trừ sẽ tính đến số thuế Việt Nam do công ty phải nộp đối với số lợi nhuận dùng để chia lãi cổ phần.
    (d) Theo nội dung của điểm 2(a) Điều này, thuế thu nhập do một đối tượng cư trú của Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất đã nộp tại Việt Nam đối với lợi nhuận kinh doanh thu được tại Việt Nam sẽ được coi là bao gồm bất kỳ khoản thuế nào lẽ ra phải nộp với tính chất là thuế Việt Nam trong bất kỳ năm nào nhưng được miễn hoặc giảm thuế trong năm đó hoặc bất kỳ thời gian nào trong năm đó do việc áp dụng các quy định của Luật Việt Nam về các ưu đãi thuế có thời hạn nhằm thúc đẩy đầu tư nước ngoài vì mục đích phát triển.
    ĐIỀU 24. KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ
    1. Các đối tượng mang quốc tịch của một Nước ký kết sẽ không phải chịu tại Nước ký kết kia bất kỳ chế độ thuế nào hoặc bất kỳ yêu cầu nào liên quan đến chế độ thuế đó hoặc yêu cầu đó khác với hoặc nặng hơn chế độ thuế và các yêu cầu liên quan hiện đang hoặc có thể áp dụng đối với các đối tượng mang quốc tịch của Nước ký kết kia trong cùng những hoàn cảnh như nhau.
    2. Chế độ thuế áp dụng đối với một cơ sở thường trú của một doanh nghiệp của một Nước ký kết có tại Nước ký kết kia sẽ không kém thuận lợi hơn tại Nước ký kết kia so với chế độ thuế áp dụng đối với các doanh nghiệp của Nước ký kết kia cùng tiến hành các hoạt động tương tự.
    3. Trừ trường hợp áp dụng những quy định tại Điều 9, khoản 6 Điều 11 hoặc khoản 6 Điều 12, lãi từ tiền cho vay, tiền bản quyền và các khoản thanh toán khác do một doanh nghiệp của một Nước ký kết trả cho đối tượng cư trú của Nước ký kết kia khi xác định các khoản lợi nhuận chịu thuế của doanh nghiệp đó sẽ được giảm trừ theo cùng các điều kiện như các khoản đó được trả cho một đối tượng cư trú của Nước thứ nhất.
    4. Các doanh nghiệp của một Nước ký kết có toàn bộ hoặc một phần vốn do một hoặc nhiều đối tượng cư trú của Nước ký kết kia sở hữu hoặc kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp, sẽ không phải chịu tại Nước thứ nhất bất kỳ chế độ thuế hoặc yêu cầu nào liên quan đến chế độ thuế đó khác với hoặc nặng hơn chế độ thuế và những yêu cầu liên quan hiện đang hoặc có thể được áp dụng cho các doanh nghiệp tương tự khác của Nước thứ nhất.
    5. Không có nội dung nào tại Điều này sẽ được giải thích là buộc một Nước ký kết cho phép các cá nhân không cư trú tại Nước đó hưởng bất kỳ khoản giảm trừ cá nhân, miễn và giảm dưới giác độ thuế mà Nước đó dành cho đối tượng cư trú của mình vì các quy định dân sự hoặc các trách nhiệm với gia đình.
    6. Các quy định tại Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với các loại thuế bao gồm trong Hiệp định.
    ĐIỀU 25. THỦ TỤC THỎA THUẬN SONG PHƯƠNG
    1. Trường hợp một đối tượng là đối tượng cư trú của một Nước ký kết nhận thấy rằng việc giải quyết của nhà chức trách có thẩm quyền của một hoặc cả hai Nước ký kết làm cho hoặc sẽ làm cho đối tượng đó phải nộp thuế không đúng với những quy định của Hiệp định này, mặc dù trong nội luật của các Nước đó đã quy định về chế độ xử lý khiếu nại, đối tượng này có thể giải trình trường hợp của mình với nhà chức trách có thẩm quyền của Nước ký kết mà đối tượng đó là đối tượng cư trú. Trường hợp đó phải được giải trình trong thời hạn 3 năm kể từ lần thông báo giải quyết đầu tiên dẫn đến chế độ thuế áp dụng không đúng với những quy định của Hiệp định.
    2. Nhà chức trách có thẩm quyền sẽ cố gắng, nếu như việc khiếu nại là hợp lý và nếu bản thân nhà chức trách đó không thể đi đến một giải pháp thỏa đáng, phối hợp với nhà chức trách có thẩm quyền của Nước ký kết kia để cùng giải quyết trường hợp khiếu nại bằng thỏa thuận chung, nhằm mục đích tránh việc đánh thuế không phù hợp với quy định của Hiệp định này. Mọi thỏa thuận đạt được sẽ được thực hiện không căn cứ vào những giới hạn thời gian trong nội luật của các Nước ký kết.
    3. Nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ cùng nhau cố gắng giải quyết bằng thỏa thuận chung mọi khó khăn hoặc vướng mắc nảy sinh trong quá trình giải thích hoặc áp dụng Hiệp định này. Họ cũng có thể tham vấn với nhau để xóa bỏ việc đánh thuế hai lần trong các trường hợp không được quy định tại Hiệp định.
    4. Nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết có thể liên hệ trực tiếp với nhau, nhằm đạt được một thỏa thuận theo nội dung của những khoản trên đây.
    ĐIỀU 26. TRAO ĐỔI THÔNG TIN
    1. Nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ trao đổi với nhau những thông tin dự đoán có thể cần thiết cho việc triển khai thực hiện những quy định của Hiệp định này hoặc việc quản lý hoặc thực thi nội luật của từng Nước ký kết liên quan đến các loại thuế được đánh bởi các Nước ký kết hoặc chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương của Nước ký kết đó trong phạm vi việc đánh thuế không trái với Hiệp định này.
    2. Mọi thông tin do một Nước ký kết nhận được theo khoản 1 sẽ được giữ bí mật giống như thông tin thu nhận theo nội luật của Nước này và thông tin đó sẽ chỉ được cung cấp cho các đối tượng hoặc các cơ quan chức năng (bao gồm cả tòa án và các cơ quan hành chính) có liên quan đến việc tính toán hoặc thu, cưỡng chế hoặc truy tố hoặc xác định các khiếu nại về các loại thuế nêu tại Khoản 1, hoặc đã thấy trước như đã nêu trên. Các đối tượng hoặc các cơ quan chức năng này sẽ chỉ sử dụng các thông tin đó vào các mục đích nêu trên. Các đối tượng và các cơ quan đó có thể cung cấp các thông tin này trong quá trình tố tụng công khai của tòa án hoặc trong các quyết định của tòa án.
    3. Không có trường hợp nào mà những quy định tại khoản 1 và khoản 2 được giải thích là buộc nhà chức trách có thẩm quyền của một Nước ký kết có nghĩa vụ:
    (a) thực hiện các biện pháp hành chính khác với luật pháp hoặc thông lệ về quản lý hành chính của Nước ký kết đó hoặc của Nước ký kết kia;
    (b) cung cấp các thông tin không thể tiết lộ được theo các luật hoặc theo như quá trình quản lý hành chính thông thường của Nước ký kết đó hoặc của Nước ký kết kia;
    (c) cung cấp các thông tin có thể làm tiết lộ bí mật về mua bán, kinh doanh, công nghiệp, thương mại hoặc bí mật nghề nghiệp hoặc các quy trình kinh doanh, hoặc cung cấp các thông tin mà việc tiết lộ chúng có thể trái với chính sách quốc gia.
    4. Nếu thông tin do một Nước ký kết yêu cầu phù hợp với Điều này, Nước ký kết kia sẽ sử dụng các biện pháp thu thập thông tin của mình để có được các thông tin theo yêu cầu, mặc dù Nước kia có thể không cần các thông tin như vậy cho mục đích thuế của mình. Nghĩa vụ được quy định tại câu trên phụ thuộc vào các giới hạn tại khoản 3 nhưng trong mọi trường hợp, các giới hạn này không có nghĩa là cho phép một Nước ký kết từ chối việc cung cấp thông tin chỉ vì Nước ký kết đó không có lợi ích từ các thông tin như vậy trừ khi không có các thông tin này.
    ĐIỀU 27. CƠ QUAN ĐẠI DIỆN NGOẠI GIAO VÀ CƠ QUAN LÃNH SỰ
    Không nội dung nào tại Hiệp định này sẽ ảnh hưởng đến các ưu đãi về thuế dành cho các cơ quan đại diện ngoại giao hoặc các cơ quan lãnh sự theo các nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế hoặc các quy định tại các hiệp định đặc biệt.
    ĐIỀU 28. HIỆU LỰC
    1. Từng Nước ký kết sẽ thông báo cho Nước ký kết kia bằng văn bản thông qua đường ngoại giao về việc hoàn thành các thủ tục cần thiết theo luật pháp của nước mình để Hiệp định có hiệu lực. Hiệp định này sẽ có hiệu lực vào ngày nhận được thông báo sau cùng.
    2. Hiệp định này sẽ có hiệu lực thi hành:
    (a) tại Việt Nam:
    (i) đối với các khoản thuế khấu trừ tại nguồn, liên quan đến khoản thuế phải nộp nhận được vào ngày hoặc sau ngày 01 tháng 01 sau năm dương lịch Hiệp định có hiệu lực, và trong các năm dương lịch tiếp theo;
    (ii) đối với các khoản thuế Việt Nam khác, liên quan đến thu nhập, lợi nhuận hoặc thu nhập từ chuyển nhượng tài sản phát sinh vào ngày hoặc sau ngày 01 tháng 01 sau năm dương lịch Hiệp định có hiệu lực, và trong các năm dương lịch tiếp theo;
    b) tại Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất:
    (i) đối với các khoản thuế khấu trừ tại nguồn, liên quan đến khoản thuế phải nộp nhận được vào ngày hoặc sau ngày 01 tháng 01 sau năm dương lịch Hiệp định có hiệu lực, và trong các năm dương lịch tiếp theo;
    (ii) đối với các loại thuế UAE khác, liên quan đến thu nhập, lợi nhuận hoặc thu nhập từ chuyển nhượng tài sản phát sinh vào ngày hoặc sau ngày 01 tháng 01 sau năm dương lịch Hiệp định có hiệu lực, và trong các năm dương lịch tiếp theo.
    ĐIỀU 29. CHẤM DỨT HIỆU LỰC
    Hiệp định này sẽ còn hiệu lực thi hành cho đến khi được chấm dứt bởi một Nước ký kết. Mỗi Nước ký kết thông qua đường ngoại giao có thể chấm dứt hiệu lực Hiệp định bằng cách gửi cho Nước ký kết kia văn bản thông báo chấm dứt hiệu lực Hiệp định ít nhất 6 tháng trước khi kết thúc bất kỳ năm dương lịch nào bắt đầu từ sau thời hạn 5 năm kể từ ngày Hiệp định có hiệu lực. Trong trường hợp như vậy, Hiệp định sẽ hết hiệu lực thi hành:
    (a) tại Việt Nam:
    (i) đối với các khoản thuế khấu trừ tại nguồn, liên quan đến khoản thuế phải nộp nhận được vào ngày hoặc sau ngày 01 tháng 01 sau năm dương lịch gửi thông báo kết thúc hiệu lực;
    (ii) đối với các khoản thuế Việt Nam khác, liên quan đến thu nhập, lợi nhuận hoặc thu nhập từ chuyển nhượng tài sản hoặc tài sản phát sinh vào ngày hoặc sau ngày đầu tiên của tháng 01 trong năm dương lịch gửi thông báo kết thúc hiệu lực;
    (b) tại Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất:
    (i) đối với khoản thuế khấu trừ tại nguồn đối với thu nhập nhận được vào ngày hoặc sau ngày 01 tháng 01 của năm tiếp sau năm gửi thông báo kết thúc hiệu lực;
    (ii) đối với các khoản thuế khác đối thu nhập, cho năm tính thuế bắt đầu vào ngày hoặc sau ngày 01 tháng 01 của năm tiếp sau năm gửi thông báo kết thúc hiệu lực.
    ĐỂ LÀM BẰNG những người có tên dưới đây, được sự ủy quyền hợp thức của Chính phủ nước mình, đã ký vào Hiệp định này.
    Hiệp định làm tại Dubai ngày 16 tháng 02 năm 2009, thành hai bản bằng tiếng Anh.
     

    THAY MẶT CHÍNH PHỦ
    NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
    VIỆT NAM
    THỨ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH



    Trần Xuân Hà
    THAY MẶT CHÍNH PHỦ
    CÁC TIỂU VƯƠNG QUỐC
    A-RẬP THỐNG NHẤT
    BỘ TRƯỞNG NHÀ NƯỚC VỀ
    NGOẠI GIAO TÀI CHÍNH


    Obaid Humaid Al Tayer
    NGHỊ ĐỊNH THƯ
    Tại thời điểm ký kết Hiệp định về việc tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và vào tài sản giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất, những người ký tên dưới đây đã thỏa thuận các điều khoản dưới đây sẽ là một bộ phận hợp thành của Hiệp định.
    1. Liên quan đến điểm 3c), Điều 5:
    (i) Trong trường hợp của Việt Nam, không có quy định nào tại Hiệp định này làm ảnh hưởng đến quyền của Việt Nam, hoặc bất kỳ chính quyền địa phương nào của Việt Nam đối với việc áp dụng các luật và quy định trong nước có liên quan đến thuế đối với thu nhập và lợi nhuận nhận được từ Hi-đrô-các-bon và các hoạt động có liên quan được thực hiện trong lãnh thổ Việt Nam;
    (ii) Trong trường hợp của UAE, không có quy định nào tại Hiệp định này làm ảnh hưởng đến quyền của UAE hoặc bất kỳ chính quyền địa phương nào của UAE đối với việc áp dụng các luật và quy định trong nước có liên quan đến thuế đối với thu nhập và lợi nhuận nhận được từ Hi-đrô-các-bon và các hoạt động có liên quan được thực hiện trong lãnh thổ UAE.
    2. Bất kỳ quy định nào khác để thúc đẩy phát triển kinh tế ở Việt Nam, mà sau này được ban hành nhằm miễn thuế hoặc giảm thuế Việt Nam được nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết đồng ý có tính chất tương tự và không được thay đổi sau đó hoặc chỉ được sửa đổi ở các khía cạnh nhỏ không đáng kể không ảnh hưởng đến đặc điểm chung của loại thuế đó.
    ĐỂ LÀM BẰNG những người có tên dưới đây, được sự ủy quyền hợp thức của Chính phủ nước mình, đã ký vào Nghị định thư này.
    Nghị định thư làm tại Dubai ngày 16 tháng 02 năm 2009, thành hai bản bằng tiếng Anh.
     

    THAY MẶT CHÍNH PHỦ
    NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    THỨ TRƯỞNG BỘ TÀI CHÍNH





    Trần Xuân Hà
    THAY MẶT CHÍNH PHỦ
    CÁC TIỂU VƯƠNG QUỐC
    A-RẬP THỐNG NHẤT
    BỘ TRƯỞNG NHÀ NƯỚC VỀ
    NGOẠI GIAO TÀI CHÍNH




    Obaid Humaid Al Tayer
     
     
     
  • Không có văn bản liên quan.

  • Hiệu lực văn bản

    Hiệu lực liên quan

    Văn bản chưa có liên quan hiệu lực
  • Văn bản đang xem

    Hiệp định giữa Việt Nam và Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất về tránh đánh thuế hai lần, ngăn ngừa trốn thuế

    In lược đồ
    Cơ quan ban hành:Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Các Tiểu vương quốc A-rập Thống nhất
    Số hiệu:Không số
    Loại văn bản:Hiệp định
    Ngày ban hành:16/02/2009
    Hiệu lực:12/04/2010
    Lĩnh vực:Thuế-Phí-Lệ phí, Ngoại giao, Chính sách
    Ngày công báo:Đang cập nhật
    Số công báo:Theo văn bản
    Người ký:Trần Xuân Hà, Obaid Humaid Al Tayer
    Ngày hết hiệu lực:Đang cập nhật
    Tình trạng:Còn Hiệu lực
  • File văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Văn bản liên quan

Văn bản mới

X